Tuấn Khanh và sự vô đạo đức của một kẻ được gọi là nhạc sĩ

Việc coi những chiến sĩ hi sinh ở Trường Sa năm 1988 như những người “bị giết chết uất ức vì theo lệnh của chỉ huy trên đất liền là không được đánh trả” là một sự xúc phạm không thể dung thứ anh linh những người đã khuất.
Một bài viết trên trang mạng RFA mới đây của Tuấn Khanh - một nhạc sĩ đang sinh sống tại TP HCM - đã đăng hình ảnh tấm bia ghi hàng chữ "Nghĩa sĩ Hoàng Sa" (chụp trong buổi lễ đặt đá xây dựng Khu tưởng niệm “Nghĩa sĩ Hoàng Sa” tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi ngày 17/1 vừa qua) cùng một đoạn nhận xét như sau:
 
"74 người lính [của VNCH tử trận trong hải chiến Hoàng Sa] đó không phải là nghĩa sĩ. Tấm bia giả dối chỉ ghi một nửa sự thật đó, rồi một ngày sẽ phải thay đổi. Nghĩa sĩ chỉ là những người có tấm lòng, và hành động trong một bối cảnh bị dồn ép. Nhưng 74 anh linh đó là những quân nhân nhận được mệnh lệnh trực tiếp từ chỉ huy của họ, của tổ quốc mình, rằng phải sống mái với giặc thù để giành lại đảo, giành lại biển, và họ trở thành tử sĩ. Rõ ràng, quyết tâm và hành động của thiếu tá Ngụy Văn Thà và đồng đội của mình hoàn toàn khác hẳn với 64 binh sĩ của quân đội Nhân Dân Việt Nam trên đảo Gạc Ma, bị thảm sát năm 1988: đó là những người bộ đội bị giết chết uất ức vì theo lệnh của chỉ huy trên đất liền là không được đánh trả. Thậm chí xác của họ không được trục vớt, thông tin bị ém nhẹm suốt nhiều năm, họ từng bị bỏ quên trong trong nhiều năm một cách đau xót. Chính những người đó đã hy sinh trong vai trò của nghĩa sĩ. Ngày 19/1/1974 không có nghĩa sĩ, mà chỉ có những người hy sinh vì đất nước, những tử sĩ của quốc gia".
Những nhận xét này đã khiến nhiều người phẫn nộ trước sự “đổi trắng thay đen” về cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 và hải chiến Trường Sa năm 1988.
Về cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974
Điều đầu tiên cần làm rõ vai trò của những người lính VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974. Họ có thực sự là những người lính đã "sống mái với giặc thù để giành lại đảo, giành lại biển" cho Tổ Quốc hay không?
Trân trọng sự ngã xuống của các nghĩa sĩ Hoàng Sa năm 1974, nhưng chúng ta không thể phủ nhận một sự thật lịch sử phũ phàng rằng, bên cạnh việc bị người Mỹ bán đứng (>> Henry Kissinger đã bán Hoàng Sa cho Trung Quốc như thế nào?), một nguyên nhân quan trong khác khiến chính thể VNCH để mất hoàn toàn Hoàng Sa vào tay quân xâm lược Trung Quốc là do sự yếu kém trong chỉ huy tác chiến cũng như sự hèn nhát của nhiều binh sĩ VNCH tham gia cuộc chiến.
Điều này được xác nhận bằng chính những nhận xét của Đại tá Hải quân VNCH Hà Văn Ngạc, người có mặt trên con tàu HQ-5 trong vai trò trực tiếp chỉ huy Hải đoàn VNCH đối mặt với Trung Quốc.
Theo đại tá Ngạc, xét về thông số, lực lượng tàu chiến của VNCH có thể dễ dàng đánh bại hải quân Trung Quốc nhờ vào ưu thế về trang bị. Tuy nhiên, kết quả trận đánh lại là một thất bại nhanh chóng cho VNCH vì những lý do sau:
Các chỉ huy VNCH đã không lập sẵn kế hoạch cơ động tác chiến nếu có nổ súng, dẫn đến việc tác chiến bị động: Trong trận đánh, Phân đoàn I (gồm 2 tàu hiện đại nhất là HQ-4 và HQ-5) chỉ ở bên ngoài "nhìn và đợi", và vì quá lo sợ Trung Quốc, HQ-5 chỉ bắn vào lòng chảo 5 - 7 phát trước khi cùng HQ-4 rút lui. Mấy phát đạn này của HQ-5 thì lại bắn trúng vào tàu HQ-16, gây thiệt hại nặng cho đồng đội. Vậy là chỉ sau ít phút tham chiến, VNCH mất một tàu do hỏa lực của chính mình bắn vào đồng đội, hai tàu khác thì quay đầu rút lui. Chỉ còn HQ-10 nhưng đây là tàu nhỏ yếu nhất. Khi hạm trưởng HQ-10 bị thương thì một số thủy thủ nhát gan cũng bỏ tàu nhảy xuống biển chứ không lo chiến đấu tiếp. Trận hải chiến vì vậy mà thất bại.
Khi lính Trung Quốc đổ bộ lên đảo, binh lính VNCH đã không tổ chức bắn trả mà bỏ chạy vào khu bụi cây giữa đảo, sau đó thì buông súng đầu hàng. Chỉ từ 10 giờ sáng tới xế trưa, lính Trung Quốc đã bắt được 49 tù binh trên các đảo mà không cần nổ súng, hoàn tất chiếm các đảo một cách nhanh chóng.
Bên cạnh đó lực lượng không quân của VNCH ở sân bay Đà Nẵng khá mạnh (bao gồm 120 máy bay phản lực Northrop F-5) nhưng lại không được phép cất cánh để tham chiến do sức ép từ Mỹ. (>> Hải chiến Hoàng Sa 1974: Tâm sự đau đớn của một phi công F-5 không được cất cánh)
Theo một bài viết của trung tá Lê Văn Thự (cựu Hạm trưởng HQ-16) được công bố vào năm 2004 tại Mỹ, thì trong suốt trận hải chiến vào sáng 19/1/1974, ông đã không hề biết tàu HQ-4 và HQ-5 ở đâu và cũng không liên lạc được với đại tá Hà Văn Ngạc, là chỉ huy cao nhất tại hiện trường. Bản thân ông Thự đã từ chối ủi tàu vào đảo cố thủ chờ cứu viện mà cho tàu đào thoát về Đà Nẵng vì sợ bị Trung Quốc bắt làm tù binh. (>> Hải chiến Hoàng Sa 1974: Tiết lộ sốc của một chỉ huy VNCH)
Về cuộc hải chiến Trường Sa 1988
Trong cuộc hải chiến Trường Sa 1988, có phải "những người bộ đội bị giết chết uất ức vì theo lệnh của chỉ huy trên đất liền là không được đánh trả? Thậm chí xác của họ không được trục vớt, thông tin bị ém nhẹm suốt nhiều năm, họ từng bị bỏ quên trong trong nhiều năm một cách đau xót" như những lời lẽ của Tuấn Khanh?
Về điều nay, xin trích lại bài viết của nhà báo Nguyễn Đình Quân:
Không có chuyện “mất Gạc Ma do lính ta không dám nổ súng, vì một ông lãnh đạo cao cấp đã ra lệnh không được nổ súng trong bất kỳ trường hợp nào”, không có chuyện “nhà nước bưng bít vụ 14/3/1988”, vài năm nay tôi đã nhiều lần trả lời nhiều bạn về ngày 14/3/1988. Nhưng bây giờ, vẫn có nhiều người nói hai điều trên là có thật, khiến một số người lại hỏi tôi. Đành viết về vấn đề này một lần nữa.
Trên đây là ảnh báo Nhân Dân và báo Hà Nội Mới số ra ngày 15/4/1988, đăng tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Tàu của ta đã buộc phải nổ súng để tự vệ. Trong khi đó họ lại đổi trắng thay đen, vu cáo tàu của Việt Nam khiêu khích vũ trang tàu chiến của Trung Quốc”.
Những trang báo này, tuyên bố này nói lên điều gì?
 
Nếu các chiến sĩ hải quân Việt Nam không được nổ súng thì tại sao Trung Quốc có 6 lính chết và 18 lính bị thương trong cuộc hải chiến ngày 14/3/1988?
Nói rằng, không có chuyện lính ta không dám nổ súng, vì một ông lãnh đạo cao cấp đã lệnh không được nổ súng trong bất kỳ trường hợp nào. “Bình tĩnh, kiên quyết, khôn khéo xử lý, không nổ súng trước, không mắc mưu khiêu khích của đối phương”, đó là nguyên tắc ứng xử của ta trước các hành động gây hấn của Trung Quốc năm 1988 và các năm sau, cho đến tận ngày nay. “Không nổ súng trước” khác hẳn “không được nổ súng”, ai đó đừng có lập lờ.
Nói rằng, ngay sau khi sự kiện ngày 14/3/1988 nổ ra, các cơ quan truyền thông của Việt Nam đã lên tiếng rất mạnh mẽ, chả có sự bưng bít nào. Nói thêm, không phải chỉ khi có sự kiện 14/3/1988, mà ngay từ tháng 1/1988, khi Trung Quốc bắt đầu có các hành động chiếm đóng đá Chữ Thập, đá Châu Viên, báo chí và người dân Việt Nam đã liên tục, mạnh mẽ lên án hành động xâm lược của Trung Quốc.
Thư của huyện Hương Phú, tỉnh Bình Trị Thiên gửi quân dân Trường Sa
Nói thêm với những bạn cho rằng nhà nước bưng bít vụ 14/3/1988. Các bạn có thể dễ dàng kiểm chứng điều này, bằng cách đến thư viện, tìm đọc các số báo ra trong nửa sau tháng 3/1988 và tháng 4, tháng 5/1988. Nếu ai đã biết rằng không có chuyện bưng bít, nhưng vẫn cứ lu loa rằng “nhà nước Việt Nam bưng bít vụ mất đảo năm 1988”, người đó chẳng đáng trọng.
Điều này xác nhận bởi cựu binh Gạc Ma Lê Hữu Thảo:
"Tôi là người trực tiếp dưới đảo Gạc Ma vào sáng ngày 14/3/88, là tiểu đội trưởng chỉ huy tổ bảo vệ cờ, có 2 khẩu AK 47 .
Tôi chưa từng nghe ai lệnh cho tôi là không được nổ súng, và tôi không hề phát biểu về có lệnh hay không có lệnh nổ súng và bằng chứng trong clip vẫn còn đó .
Ấy vậy mà nhóm phóng viên (đài RFA) hôm nay đăng bài nói rằng tôi nói ta lệnh không được nổ súng, như vậy là thêm thắt, bịa đặt làm cho dư luận xấu càng thêm ồn ào. Điều này rất đáng trách các phóng viên.
 

Cựu binh Gạc Ma Lê Hữu Thảo trả lời trên báo Dailo.vn:

"Ở đây, nếu có thì chỉ là không nổ súng trước, bởi mình không bao giờ khiêu khích. Địch đã nổ súng vào đồng đội mình mà lại nói là không cho nổ súng thì không đúng.

Không có bất cứ ông chỉ huy nào lại để lính mình làm bia cho quân địch bắn cả".

Có một số cá nhân phát biểu, viết status, làm thơ nói rằng do có lệnh không được nổ súng nên dẫn đến 64 chiến sĩ ta phải hy sinh.
Xin thưa với quý bạn bè và các đọc giả quan tâm, nếu các bạn tin ở tôi thì tôi nói thêm rằng: Nếu ta nổ súng trước sớm hơn 30 giây thì địch bị tiêu diệt và bị thương thêm vài ba chục tên, còn ta sẽ hy sinh từ con số 64 trở lên.
Còn ta nổ súng sau chừng 15 giây thì sự việc như đã xẩy ra rồi mà mọi người đã theo dõi bấy lâu nay.
Tôi rất mong những ai đã viết, đã phát biểu dù với mục đích gì cũng nên kiểm điểm lại, gỡ bài hoặc đính chính kẻo đến lúc tôi điểm mặt chỉ tên thì sự bất lợi sẽ thuộc về các bạn".
*      *
*
Có thể khẳng định rằng, trong cuộc hải chiến Trường Sa 1988, nhờ việc chấp nhận hi sinh để bám giữ điểm đảo trong điều kiện ngặt nghèo của các chiến sĩ (chỉ có tàu vận tải, thua kém hoàn toàn về hỏa lực) nên Việt Nam mới giữ được một phần lớn quần đảo Trường Sa cho đến nay (Việt Nam kiểm soát được 21 thực thể địa lý ở Trường Sa gồm 7 đảo san hô và cồn cùng 14 ám tiêu san hô, so với Philippines là 7 đảo san hô và cồn cùng 3 ám tiêu san hô, Trung Quốc 7 ám tiêu san hô, Malaysia 7 ám tiêu san hô, Đài Loan 1 đảo san hô và 1 ám tiêu san hô).
Nếu vào năm 1988, những chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng bỏ chạy như quân đội VNCH năm 1974, Trường Sa cũng đã mất vào tay quân xâm lược Trung Quốc như Hoàng Sa.
 


Vì vậy, việc Tuấn Khanh và đài RFA coi những chiến sĩ hi sinh ở Trường Sa năm 1988 như những người “bị giết chết uất ức vì theo lệnh của chỉ huy trên đất liền là không được đánh trả” là một sự xúc phạm không thể dung thứ anh linh những người đã khuất

Facebook Comment